Hồi còn ở Thụy Khuê, con đường tôi đi học mỗi ngày trồng toàn dâu da xoan. Không cao, không rợp, chỉ vừa chạm đến bancol tầng 2 của những dãy nhà Pháp cổ ngói đỏ còn ủ màu năm tháng. Những tán dâu da xoăn lấp loáng dưới bóng hè, phiến lá mỏng manh. Nhưng cứ đến mùa quả chín, từng chùm dâu da chuyển từ xanh ngắt sang đỏ thẫm rồi tím bầm, lũ trẻ con chúng tôi tranh nhau hái, bỏ vào miệng chua lè, chẳng được mấy thịt, hạt to hơn cả phần ăn được, rồi vẫn háo hức hái tiếp. Cái vỉa hè ngày ấy là của bọn tôi theo đúng nghĩa đen. Chúng tôi đã ăn cả cây trái của nó, đã để lại trên đó những vết chân dép tổ ong lẫn trong bụi đường mỗi buổi tan trường.

Ngày ấy vỉa hè là thế giới. Không phải vì chúng tôi không có chỗ nào khác để đi, mà vì vỉa hè là nơi mọi thứ xảy ra. Bà bán xôi sáng sớm với thúng xôi ủ trong lớp chăn chiên, khói bốc lên nghi ngút. Ông già bơm xe đạp ngồi im lìm cả ngày bên cái bơm sắt gỉ. Tiếng rao của người bán kem cây leng keng lúc ba giờ chiều. Tất cả những thứ đó không nằm trong nhà, không nằm trong cửa hàng, chúng nằm trên vỉa hè, phơi ra giữa nắng và gió và tiếng động của phố phường.

Lớn hơn một chút, vỉa hè của tôi dời về đoạn ngắn chen giữa Tống Đản và Trần Quang Khải, bên hông Vietcombank. Không hiểu sao cái khoảng vỉa hè nhỏ xíu ấy lại lộng gió đến thế, gió sông Hồng thổi thốc vào giữa những buổi tối Hà Nội oi ả nhất, mang theo hơi nước mát lạnh từ mặt sông vào tận trong lòng phố. Các bà chủ “cắm dùi” mỗi người một thửa rồi cứ thế rải chiếu xuống. Dăm ba ly trà chanh khi có tiền, hoặc một âu trà đá to đùng nhiều đá ít trà và hai đĩa hướng dương, đủ cho cả lũ ngồi cả buổi tối chẳng ai muốn về. Bọn tôi hay đùa đó là bãi biển của mình. Chỉ cần nhắm mắt lại, gió thổi đủ mạnh để quên mất rằng mình đang ngồi trên mảnh vỉa hè bằng cái chiếu hoa bạc màu, giữa một thành phố không có biển.

Đó là những năm tháng chưa từng biết đến áp lực là gì. Chưa biết tiền thuê nhà, chưa biết sếp khó tính, chưa biết những mối lo len lỏi vào giấc ngủ rồi nằm đó đến tận sáng. Chỉ biết tối nay có rảnh không, ra Vietcombank không, mang theo mấy nghìn đủ uống trà đá là xong. Câu chuyện thì bất tận, từ chuyện đứa bạn vừa thích ai đó đến chuyện bộ phim đang chiếu rạp, từ chuyện đi làm thêm đến chuyện ước mơ mơ hồ về sau này. Gió thổi, đá tan dần trong ly trà, hướng dương bóc mãi không hết, và đêm cứ thế trôi qua nhẹ nhàng như thể thời gian chưa bao giờ là thứ đáng lo ngại.

Thanh xuân nhẹ tênh đến mức bây giờ nghĩ lại vẫn thấy tiếc, dù chẳng biết tiếc cụ thể điều gì. Tiếc cái vỉa hè, tiếc cái gió, hay tiếc cái thuở còn đủ rảnh rang để ngồi bóc hướng dương đến tận khuya mà không thấy mình đang lãng phí gì cả.

Sau này tôi có dịp ghé lại. Vỉa hè vẫn còn đó, nhưng chiếu đã không còn trải nữa. Người ta dựng lên những thứ khác, ngăn nắp hơn, chỉn chu hơn. Cái gió sông Hồng thì vẫn thổi, nhưng không còn ai ngồi đó để nhắm mắt tưởng tượng ra biển. Tôi đứng một lúc, nhìn cái khoảng vỉa hè quen thuộc giờ trông như một người bạn cũ đã thay tóc thay áo, vẫn nhận ra nhưng không còn thân thuộc như trước nữa.

Tôi hiểu tại sao phải thay đổi. Tôi hiểu rằng cái bà già dò dẫm xuống lòng đường vì vỉa hè bị lấn hết cũng cần một chỗ để đi, rằng người mẹ đẩy xe nôi len lỏi qua hàng quán cũng cần một lối thông thoáng. Tôi hiểu rằng cái vỉa hè đẹp trong ký ức của tôi đôi khi lại là thứ gây khó dễ cho người khác trong thực tế. Biết vậy, nhưng vẫn thấy hẫng. Vẫn đứng đó một lúc trước khi bước đi.

Có lẽ đó là cái khó của một thành phố đang lớn. Nó phải chọn, và mỗi lần chọn là một lần có người được, có người mất. Người mất thường là những kẻ mang theo ký ức. Người được thường là những đứa trẻ chưa biết mình đang được gì.

Mùa đông năm ngoái, tôi ghé vào một quán nhỏ ven đường, leo lét ánh đèn, gọi một ly trà nóng đặc quánh kiểu miền Bắc, cái loại trà mà uống vào buổi tối vẫn cứ gọi là đúng vì trời lạnh thì trà đặc mới thấm. Cạnh tôi, hai ba bác mặc áo cựu chiến binh rít thuốc lào sòng sọc, khói xanh lờ lững bay lên hòa vào làn sương giăng khi thiếu cơn gió bấc. Các bác nói về mùa đông nào đó của quá khứ, về một người bạn cũ “en-sa-va-toi rồi”, về nguyên thủ dăm ba quốc gia vừa lên bản tin thời sự. Tiếng người, tiếng xe, mùi khói thuốc lào quyện vào hơi lạnh, tất cả hòa vào nhau thành một thứ âm thanh rất Hà Nội, rất đêm đông, rất vỉa hè.

Tôi ngồi ôm ly trà, nghe các bác nói chuyện mà không cần hiểu hết, chỉ cần ngồi đó là thấy ấm. Vỉa hè vẫn còn thở, theo cái cách riêng của nó, chậm rãi và bền bỉ qua từng thế hệ người ngồi xuống rồi đứng lên.

Chỉ là mỗi người để lại một lớp ký ức khác nhau, và người đến sau không nhìn thấy lớp của người đến trước. Lũ trẻ bây giờ sẽ có vỉa hè của chúng, sẽ có chỗ ngồi của chúng, sẽ có gió của chúng. Và rồi một ngày chúng cũng sẽ quay lại, đứng nhìn cái chỗ cũ đã thay đổi, rồi thấy hẫng theo cái cách mà tôi đang thấy hẫng bây giờ.

Thành phố lớn lên bằng cách đó. Và người ta yêu thành phố cũng bằng cách đó, yêu cả những thứ đã mất lẫn những thứ chưa đến.

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *