Mùa hè đã qua mà tôi vẫn chưa ăn một bát chè nào.
Không hẳn là quên. Chỉ là những ngày nắng gắt cứ trôi qua theo một nhịp khác, họp hành, đưa đón con, những bữa cơm vội trước giờ ngủ, đến lúc ngẩng lên đã thấy gió bắt đầu hanh, mùa đã lỡ một nhịp mà không kịp nhận ra.
Tôi nhớ những bát chè của bà, đậu xanh nấu nhừ đến mức chỉ cần đưa thìa khẽ ấn là tan, đậu đen ninh lâu sánh lại thành một thứ nước nâu sậm ngọt dịu, hay hạt sen bở bùi thả giữa làn nước đường trong veo.
Bà tôi ăn trưa lúc mười giờ, cái nhịp của người già, cái nếp quen từ cái thời chưa có điện (dậy từ bốn giờ sáng, ăn sáng lúc năm giờ để kịp ra đồng, giữa buổi lót dạ củ khoai bắp ngô, rồi mười giờ đã vào bữa chính).
Cái nghèo quanh quẩn ở những năm tháng vô lo ấy mà tôi đâu nhận ra. Nhà không có bánh trái để dành, không có bữa phụ nào ních thêm chút tinh bột, chút đạm giữa buổi chiều dài dằng dặc. Ăn xong bữa trưa sớm ấy, bà đi ngủ, còn tôi thì trốn ra ngõ chơi với lũ bạn, đuổi bắt, nhảy dây, chơi cho đến khi nắng đứng bóng cũng chẳng thiết về. Mồ hôi thấm ướt lưng áo. Bụng đói cồn lên từng cơn, vì bát cơm ăn từ giữa buổi sáng đã tan hết theo từng vòng chạy nhảy.
Về đến nhà đúng lúc bà vừa tỉnh giấc, cốc chè đã chờ sẵn. Có hôm bà không nấu kịp, chỉ ra đầu ngõ mua vài miếng thạch đen, cắt nhỏ, hòa vào một cốc nước đường pha loãng, thêm chút đá đập vụn. Chỉ vậy thôi, mà cái mát lạnh cứ luồn từ đầu lưỡi xuống tận trong ngực, đủ để một đứa trẻ ngồi im, tận hưởng cái mát từ quạt nan bà cầm.
Rồi đến những năm chín mươi, một cơn sốt khác tràn về phố. Người ta gọi là chè Sài Gòn. Nhiều màu, nhiều đá, ngọt lịm, đủ thứ trân châu, thạch, sương sa chất trong những chiếc tủ kính sáng choang dưới ánh đèn nê ông. Tiệm chè Sài Gòn trở thành một chốn sang trọng bất ngờ giữa lòng Hà Nội cũ kỹ. Đôi lứa yêu nhau rủ nhau ra đó. Gia đình cuối tuần cũng đưa nhau ra đó. Còn tôi, một đứa trẻ con nhà nghèo và ham vui, chỉ dám đứng bên kia đường, nhìn vào những ly chè xếp lớp màu sắc, nuốt nước bọt ừng ực, thèm đến mức chân cứ dùng dằng không chịu bước đi.
Mãi sau này, khi đã đi qua đủ nhiều mùa hè khác, tôi mới có dịp tự thưởng cho mình một bát chè hiện đại đúng nghĩa: cốt dừa béo ngậy, trân châu dai giòn, thạch trái cây mềm mọng, một bát đá lạnh đi kèm, tan chầm chậm trên đầu lưỡi. Ngọt, thơm, béo, giòn, mềm, ngậy… đủ cả. Tôi ăn hết cả bát mà không thấy ngán, thậm chí còn muốn gọi thêm một bát nữa. Cảm giác đủ đầy ấy là thật, không có gì phải chối bỏ hay dè dặt.
Người Hà Nội xưa gọi những món như thế này là quà. “Mời bác ăn quà!”. Quà không phải để no, không phải để lấp đầy một bữa. Ăn quà là để cảm nhận cốm đang vào độ non nhất của mùa thu, để thấy hạt đậu xanh đang ở ngưỡng căng mình đẹp nhất trước khi được ninh nhừ, để nếm hạt sen bùi đang ở những ngày tháng sáu đủ đầy nhất. Ăn quà, suy cho cùng, là một cách nếm lại thời gian.
Có lẽ ly chè cốt dừa tôi vừa ăn cũng đang làm đúng công việc ấy, chỉ là theo một cách khác, một thời khác. Nó không cần đậu xanh nhừ hay nước đường trong veo để chứng minh mình xứng đáng là chè. Nó có cách riêng để nói với người ăn rằng mùa hè này đang ở đây, đang đủ đầy, đang đáng để dừng lại một chút.
Chỉ là, giữa một ngụm cốt dừa béo ngậy, không hiểu sao tôi lại chợt nhớ bàn tay bà thoăn thoắt cắt từng miếng thạch đen bằng con dao bổ cau sắc lẹm, nhớ giọng bà thủ thỉ: “trẻ con không được nghịch dao đâu đấy, để bà làm”, nhớ tiếng quạt nan trên tay bà cọt kẹt nhẹ theo từng làn gió… những âm thanh nhỏ xíu mà bao năm rồi tôi không nghe lại được nữa.
Lập thu rồi. Mùa hè đã qua mà tôi vẫn chưa ăn một bát chè nào, chỉ là bây giờ tôi không còn chắc mình đang tiếc bát chè, hay tiếc cái đứa trẻ đứng bên kia đường năm nào.



